Hồ Chí Minh tuyển tập (1945 - 1954) - Tập 2 (Nxb. Chính trị quốc gia - 2002)

Thứ sáu - 01/09/2017 03:39
LỜI GIỚI THIỆU TẬP 2
Hồ Chí Minh tuyển tập (1945 - 1954) - Tập 2 (Nxb. Chính trị quốc gia - 2002)

Hồ Chí Minh Tuyển tập, tập 2 gồm những tác phẩm, bài viết và nói chọn lọc của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ ngày 3-9-1945 đến ngày 22-7-1954 và được tuyển từ tập 4, 5, 6, 7 bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập 12 tập do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2000. Thời gian từ sau 2-9-1945 đến 22-7-1954, là một thời kỳ sôi động đầy thử thách của cách mạng Việt Nam.

Cách mạng vừa thành công, nhân dân ta phải đối mặt với ba loại giặc giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Cách mạng ở vào thế "ngàn cân treo sợi tóc". Trong hoàn cảnh đó, cùng với Đảng ta, Hồ Chí Minh đã chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua muôn trùng khó khăn hiểm trở, chiến thắng giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, giữ vững chính quyền cách mạng, lãnh đạo toàn dân giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến thần thánh đánh bại thực dân Pháp xâm lược và bọn can thiệp Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Bắc và đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, làm căn cứ địa vững chắc cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà ở thời kỳ tiếp sau.

Ở thời kỳ hết sức nghiêm trọng và đầy khó khăn thử thách, nghị lực phi thường của dân tộc và thiên tài Hồ Chí Minh đã được bộc lộ và phát huy rực rỡ. Là lãnh tụ Đảng và của cả dân tộc, là người đứng đầu nhà nước cách mạng, thiên tài Hồ Chí Minh thể hiện sâu sắc ở tư tưởng, đường lối chiến lược, sách lược cũng như năng lực tổ chức thực tiễn và sự chỉ đạo sáng suốt tài tình của Người về đối nội, đối ngoại đưa đất nước vượt qua tình thế hiểm nghèo đầy thù trong giặc ngoài năm 1945-1946 và đưa cuộc kháng chiến chống Pháp 9 năm đến thắng lợi.

Đối với Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc không thể tách rời với thống nhất Tổ quốc. Thực dân Pháp trở lại xâm chiếm Nam Bộ, hòng tách Nam Bộ ra khỏi nước Việt Nam, Người khẳng định: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”. Ngày 23-10-1946, sau khi đi thăm nước Pháp về, Hồ Chí Minh tuyên bố với quốc dân rằng: "Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên. Tôi trân trọng hứa với đồng bào rằng: Với quyết tâm của đồng bào, với quyết tâm của toàn thể nhân dân, Nam Bộ nhất định trở lại cùng thân ái chung trong lòng Tổ quốc”.

Cuối năm 1946, khi thực dân Pháp quyết xâm lược nước ta một lần nữa, không còn con đường nào khác, Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào cả nước đứng dậy kiên quyết kháng chiến. Và qua mọi khó khăn thử thách Người đã lãnh đạo toàn dân "Đánh cho đến thắng lợi hoàn toàn, đánh cho đến độc lập, thống nhất thật sự”.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập, thống nhất của Tổ quốc luôn gắn với tự do và hạnh phúc của nhân dân. Ngày 17-l0-1945, Người viết:"Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nhưng nếu nước được độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Bởi vậy, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, sau Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết nhằm đáp ứng những đòi hỏi trước mắt của nhân dân là chống nạn đói, chống nạn dốt và các tệ nạn xã hội khác; tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, xây dựng hiến pháp mới dân chủ; xoá bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò; thực hiện tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết… Người nói với đồng bào phải "coi cuộc chống nạn đói cũng như cuộc chống ngoại xâm”. Hồ Chí Minh kêu gọi mọi người hãy phát huy truyền thống dân tộc nhường cơm sẻ áo giúp nhau khi khó khăn. Biện pháp Người nêu ra là tất cả mọi người hãy nỗ lực "Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa!…Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do, độc lập”. Khi phải tiến hành cuộc kháng chiến toàn quốc, Người vạch ra đường lối "Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến và “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, làm cho toàn dân đủ ăn, đủ mặc, toàn dân biết đọc, biết viết, toàn bộ đội đầy đủ lương thực, khí giới để diệt ngoại xâm, toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn. Kháng chiến chống thực dân Pháp là tiếp tục nhiệm vụ cách mạng dân tộc và dân chủ. Bởi vậy, khi cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn giành thắng lợi cuối cùng, Người chỉ ra phải triệt để thực hiện giảm tô, giảm tức và “phải thực hiện nâng cao quyền lợi kinh tế và chính trị của nông dân, phải chia ruộng đất cho nông dân”.Theo Người, mục đích của cải cách ruộng đất là thủ tiêu chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến, thực hiện người cày có ruộng, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến. Tư tưởng này trên thực tế đã tạo ra sức mạnh to lớn, góp phần mang lại chiến thắng vang dội Điện Biên Phủ.

Để lãnh đạo toàn dân vượt qua bao khó khăn, thử thách sau Cách mạng Tháng Tám và đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi, Hồ Chí Minh đặc biệt chăm lo công tác xây dựng, phát triển Đảng. Trong hoàn cảnh đặc biệt phức tạp, éo le, thù trong giặc ngoài sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh với một quyết định cực kỳ dũng cảm và sáng suốt đã tuyên bố Đảng tự giải tán, trên thực tế là Đảng rút vào bí mật để bảo toàn lực lượng. Khi cuộc kháng chiến phát triển giành được những thắng lợi quan trọng, Đảng quyết định ra công khai và tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II vào mùa xuân năm 1951. Tại Đại hội này, Người chỉ ra nhiệm vụ của Đảng là"đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, tranh lại thống nhất và độc lâp hoàn toàn,  lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến đến chủ nghĩa xã hội”. Để hoàn thành nhiệm vụ lịch sử này, Đảng phải được xây dựng thật vững mạnh trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức, nhằm rèn luyện Đảng thành một “đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để”, xứng đáng là một chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, làm cho Đảng trở thành nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Hồ Chí Minh yêu cầu toàn Đảng cùng như mỗi đảng viên phải xung phong gương mẫu, làm theo đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công, làm cho nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, phú cường.

Hồ Chí Minh Tuyển tập, tập 2 thể hiện nổi bật tư tưởng và sự chỉ đạo sáng suốt của Người về xây dựng, kiện toàn bộ máy nhà nước dân chủ nhân dân. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, để thiết lập cơ sở pháp lý cho nhà nước kiểu mới của nhân dân, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh về Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội lập hiến, thông qua Hiến pháp khẳng định quyền làm chủ đất nước và các quyền tự do, dân chủ của nhân dân. Đồng thời, Người cùng thực hiện ngay việc chấn chỉnh bộ máy chính quyền các cấp, làm cho nó thể hiện được bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội mới. Trong Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng. Người nhắc nhở "Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật.

Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm.

Việc gì hại cho dân, ta phải hết sức trách.

Chúng ta phải yêu dân kính dân, thì dân mới yêu ta, kính ta.

Người cũng vạch ra "những lầm lỗi rất nặng nề" trong một số cán bộ, họ mắc phải các căn bệnh như trái phép, cậy thế, hủ hoá, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Người nghiêm khắc nhắc nhở “Ai đã phạm những sai lầm trên này thì phải hết sức sửa chữa, nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”.

Cùng với từng bước phát triển thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo sát sao việc chỉnh đốn và kiện toàn bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương, chú trọng ngành công an, tư pháp. kinh tế tài chính, văn hoá, giáo dục, sửa đổi lối làm việc, phương pháp công tác cho cán bộ. Năm 1952, Người phát động phong trào tẩy trừ bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí, làm cho bộ máy chính quyền trong sạch, thật sự là chính quyền của dân, do dân, vì dân.

Một nội dung xuyên suốt tập 2, Hồ Chí Minh Tuyển tập là việc Người không ngừng chăm lo mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện đoàn kết quốc tế và gắn đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám Người chủ trương lập "Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam” (Liên Việt) nhằm tập hợp mọi người Việt Nam yêu nước trong một Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng. Người đã gửi nhiều thư và điện đến các vị giám mục, linh mục để động viên tinh thần yêu nước của đồng bào công giáo. Người cũng gửi thư đến các ông lang đạo, biểu dương công trạng và tinh thần hăng hái tham gia kháng chiến của đồng bào tỉnh Hoà Bình. Người quan tâm giúp đỡ Đảng Xã hội, Đảng Dân chủ, động viên các nhân sĩ, trí thức, các nhà công thương… hăng hái tham gia kháng chiến và thực hiện đại đoàn kết. Người lãnh đạo thống nhất Mặt trận Việt Minh và Hội liên hiệp quốc dân thành Mặt trận Liên Việt tạo ra khối đại đoàn kết dân tộc "trường xuân bất lão” với sức mạnh không gì thắng nổi. Mặt trận Liên Việt đã góp phần to lớn vào việc đưa kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi.

Hồ Chí Minh cũng đặc biệt coi trọng việc tăng cường đoàn kết quốc tế. Người gửi nhiều thư và điện văn đến Liên hợp quốc, đến những người đứng đầu Chính phủ Pháp, Hoa Kỳ, Trung Quốc và nhân dân nhiều nước trên thế giới nhằm tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các lực lượng hoà bình và tiến bộ trên thế giới. Người đa đi thăm nước Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp. Chuyến thăm nước ngoài đầu tiên trên cương vị người đứng đầu nhà nước Việt Nam mới thể hiện tư tưởng độc lập và thiện chí hoà bình của dân tộc ta. Người đề ra sách lược ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt phù hợp với từng thời điểm lịch sử, nhằm thêm bạn bớt thù, phân hoá kẻ thù, loại trừ từng bước các thế lực đối địch, tranh thủ thời gian để củng cố lực lượng cách mạng.

Hồ Chí Minh khẳng định chính sách ngoại giao hoà bình và thân thiện với tất cả các nước. Người tuyên bố: "Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”, “Thái độ nước Việt Nam đối với những nước Á châu là một thái độ anh em, đối với ngũ cường là một thái độ bạn bè”. Đầu năm 1948, Người đã chủ động phá thế bao vây của kẻ thù, cử một đoàn cán bộ ngoại giao đầu tiên của ta sang các nước Thái Lan, Miến Điện, Trung Hoa, Tiệp Khắc để tuyên tuyền về cuộc kháng chiến anh dũng và chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Đầu năm 1954, Người tuyên bố rõ quan điểm đối ngoại của Chính phủ ta với chính phủ các nước trên thế giới: "Căn cứ trên quyền lợi chung, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hòa bình và xây đắp dân chủ nhân dân”. Sau tuyên bố trên, chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa và dân chủ mới lần lượt chính thức công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ ta. Thắng lợi này đã đưa lại sự ủng hộ to lớn của các lực lượng dân chủ và hoà bình trên thế giới đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Sức mạnh tự lực tự cường của dân tộc được kết hợp với sức mạnh đoàn kết quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc kháng chiến của ta mau thắng lợi.

Từ những thắng lợi to lớn trên chiến trường, Hồ Chí Minh chủ động đặt vấn đề thương lượng để đi tới kết thúc chiến tranh. Ngày 26-11-1953, trả lời phỏng vấn của một nhà báo Thuỵ Điển, Người nêu rõ nguyên nhân, tình hình cuộc chiến tranh ở Việt Nam và khẳng định: "Nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối  hòa bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa sẵn sàng tiếp ý muốn đó”. "Cơ sở việc đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của nước Việt Nam”. Tuyên bố này có tiếng vang lớn trong nước và trên thế giới, mở hướng đi tới cuộc thương lượng hoà bình ở Hội nghị Giơnevơ năm 1954.

Với đường lối kháng chiến toàn diện, Hồ Chí Minh lãnh đạo xây dựng lực lượng không chỉ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự mà Người rất chú ý tới mặt trận văn hoá. Ngay sau thắng lợi Cách mạng Tháng Tám, Người ra kỳ hạn "trong một năm phải thanh toán xong nạn mù chữ”, “phải học đạo đức công dân, phổ thông chính trị”, “để trả lời cho thế giới biết nước ta là nước văn minh”. Người chủ trương phát triển văn hoá gắn liền với xây dựng đời sống mới. Người viết tác phẩm Đời sống mới kêu gọi thực hành đời sống mới trong mọi lĩnh vực, mọi tầng lớp và trong từng con người. Người chỉ ra rằng: "Đời sống mới không phải là cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới”.

Cái gì cũ mà xấu,  thì phải bỏ...

Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý...

Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm...

Cái gì mới mà hay thì ta phải làm”.

Người khẳng định văn hoá là một mặt trận, người làm văn hoá phải là chiến sĩ trên mặt trận ấy, “kháng chiến hoá văn hoá, văn hoá hoá kháng chiến".

Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng công tác thi đua nhằm phát huy tới mức cao nhất khả năng của mọi người, mọi ngành. Làm được như vậy thì ta nhất định thắng, địch nhất định thua, kháng chiến nhất định thắng lợi, kiến quốc nhất định thành công.

Biết không tránh khỏi một cuộc kháng chiến, nên ngay từ đầu, cùng với việc chỉ đạo xây dựng chế độ mới về chính trị, kinh tế, văn hoá, Hồ Chí Minh đặc biệt chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Thực dân Pháp trở lại xâm lược Nam Bộ, Hồ Chí Mình vừa chỉ đạo kháng chiến của nhân dân ta ở Nam Bộ, vừa gấp rút chuẩn bị mọi mặt để bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc lâu dài. Người chỉ đạo khẩn trương phát triển lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng căn cứ địa Việt Bắc. Người cải tổ Chính phủ, lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến, một chính phủ toàn quốc "có đủ nhân tài Trung, Nam, Bắc tham gia” đủ sức lãnh đạo toàn dân tiến hành kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Tháng 11-1946, Người viết chỉ thị Công việc khẩn cấp bây giờ, xác định rõ tính chất và nội dung cuộc kháng chiến. Đó sẽ là cuộc kháng chiến toàn diện, cả về kinh tế, quân sự, chính trị, giao thông; là cuộc kháng chiến trường kỳ “rất gay go, gian khổ”.

Thực dân Pháp cự tuyệt hoà bình, quyết lao vào chiến tranh. Đại diện cho tinh thần yêu nước và ý chí bất khuất của dân tộc đấu tranh vì độc lập, tự do. Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Người khẳng định: “ phảl gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta”.

Hồ Chí Minh chủ trương phát triển lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Trong xây dựng và phát triển quân đội, Người chỉ đạo: Phải ra sức đẩy mạnh việc xây dựng và củng cố công tác chính trị và quân sự trong bộ đội ta. Làm cho quân đội ta thành một quân đội chân chính của nhân dân, một quân đội vô địch. Cùng với xây dựng quân đội, phải phát triển và củng cố dân quân du kích về mọi mặt: tổ chức, huấn luyện, chỉ đạo và nâng cao sức chiến đấu. Phải làm cho lực lượng dân quân du kích thành những tấm lưới sắt rộng rãi và chắc chắn, chăng khắp mọi nơi, địch mò đến đâu là mắc lưới tới đó. Cả ba thứ quân phải bám sát lấy dân, rời dân ra nhấtđịnh thất bại. Trong xây dựng lực lượng vũ trang, Người rất chú trọng giáo dục đội ngũ cán bộ. Người yêu cầu: “Một người cán bộ tốt phải có đạo đức cách mạngQuân sự giỏi song nếu không có đạo đức cách mạng thì khó thành công. Muốn có đạo đức cách mạng phải có 5 điều sau đây: Trí - Tín - Nhân - Dũng – Liêm”.

Trong xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, Hồ Chí Minh không chỉ đề ra những quyết định lớn chỉ đạo chiến lược chiến tranh, phương châm tác chiến, Người còn trực tiếp chỉ đạo cụ thể về chiến dịch và chiến thuật. Người uốn nắn những khuynh hướng nóng vội, muốn đánh to thắng to khi chưa đủ điều kiện, chỉ rõ trong tác chiến phải phát huy yếu tố tinh thần ưu thế chính trị, biết chớp thời cơ bất ngờ tiến công địch, đã đánh là phải quyết thắng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và sự chỉ đạo chặt chẽ, sáng suốt của Người là nhân tố quan trọng tạo nên chiến thắng Điện Biên Phủ, lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song Hồ Chí Minh Tuyển tập, tập 2 xuất bản lần thứ ba khó tránh khỏi thiếu sót. Chúng tôi mong được bạn đọc góp ý để lần xuất bản sao có chất lượng cao hơn.

Tải File tập 2

Nguồn tin: dangcongsan.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Văn bản mới

14475/BTC-TCHQ

Xử lý thuế đối với phế liệu, phế phẩm, nguyên liệu vật tư dư thừa của HĐGC

Lượt xem:54 | lượt tải:26

21/2017/TT-BCT

Thông tư 21/2017/TT-BCT về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về mức giới hạn hàm lượng formaldehyt và các amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may

Lượt xem:19 | lượt tải:13

18/2017/TT-BCT

Bãi bỏ một số điều của Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BCT-BKHCN

Lượt xem:35 | lượt tải:19

108/2017/NĐ-CP

Về Quản lý phân bón

Lượt xem:39 | lượt tải:19

105/2017/NĐ-CP

Nghị định 105/2017/NĐ-CP về kinh doanh rượu

Lượt xem:15 | lượt tải:11

3566/QĐ-BNN-BVTV

Tiếp tục nhập khẩu bột bã ngô từ Hoa Kỳ

Lượt xem:30 | lượt tải:12

3542/QĐ-BNN-TY

Tiếp tục nhập khẩu gia cầm và các sản phẩm gia cầm từ Hoa kỳ

Lượt xem:18 | lượt tải:11

7957/BCT-CP

Thay đổi đầu mối tiếp nhận và quản lý hồ sơ khai báo hóa chất

Lượt xem:95 | lượt tải:33

14/2017/TT-BCT

Thông tư 14/2017/TT-BCT về bãi bỏ Thông tư 12/2015/TT-BCT quy định việc áp dụng chế độ cấp Giấy phép nhập khẩu tự động đối với sản phẩm thép

Lượt xem:100 | lượt tải:46

11190/BTC-TCHQ

Chính sách thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu của công ty cho thuê tài chính

Lượt xem:122 | lượt tải:38
KÊNH TIẾP NHẬN
THÔNG TIN GÓP Ý

ĐT: 0276.3821.429
Email: phongnv_hqtn@customs.gov.vn
Tỷ giá USD
Ngày hiệu lực      Tỷ giá
06/11/2017      22.675,00 đ
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây